Vous êtes sur la page 1sur 21

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH


HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
________________________

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ HỌC VĨ MÔ


VÀ SỰ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

Đề tài: Lạm phát và những biện pháp ngăn ngừa lạm phát trong
điều hành nền kinh tế quốc dân.

Người hướng dẫn: TS. Đào Đăng Kiên


Người thực hiện đề tài: Lê Thanh Hải
Lớp: CH14C

1
LỜI NÓI ĐẦU

Sau một thời gian dài bị lãng quên, gần đây lạm phát ở Việt nam lại bắt đầu
được một số các nhà kinh tế trong nước và ngoài nước đưa ra tranh luận. Sở dĩ vấn
đề này được quan tâm vì gần đây chỉ số giá tiêu dùng trong nền kinh tế tăng đột
biến trong nửa đầu năm nay, CPI tăng 7,2% và dự đoán có thể còn tiếp tục tăng vào
những tháng cuối năm ở mức hai con số là hoàn toàn có thể. Điều này đã vượt qua
kế hoạch kiềm chế lạm phát ở mức 5% như kế hoạch đầu năm của Quốc Hội.
Chính phủ cũng có nhiều cuộc hội thảo với sự tham gia của nhiều cơ quan như
Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF) nhằm tìm ra nguyên nhân của sự tăng giá và tìm kiếm những giải
pháp cho việc ổn định giá cả trong thời gian tới. Cuộc tranh luận hiện nay xoay
quanh vấn đề liệu sự tăng giá này có phải là lạm phát không? Nguyên nhân dẫn đến
tăng giá hiện nay có gì khác so với nguyên nhân tăng giá vào những năm 80? Có
một vài cách giải thích khác nhau về vấn đề này. Một số thiên về quan điểm của
phái trọng tiền (monetarist), cho rằng tăng giá hiện nay là do tăng tiền và không có
gì khác nhau giữa việc tăng giá vào những thập niên 80 so với hiện nay và trách
nhiệm này thuộc về Ngân hàng Nhà nước. Một số khác thiên về phái cơ cấu
(structuralist), cho rằng tăng giá hiện nay là do tăng chi phí sản xuất mà nó bắt
nguồn từ yếu tố khách quan bên ngoài, việc tăng giá này chỉ nhất thời nên không
cần phải có những chính sách cấp bách. Tiểu luận này tập trung vào xem lại nền
tảng của lý thuyết truyền thống về lạm phát và xem xét lý thuyết này trong bối cảnh
dữ liệu của Việt nam hiện nay. Kết quả của nghiên cứu này nhằm làm rõ nguyên
nhân của sự tăng giá về mặt lý thuyết và thảo luận thực tế Việt Nam hiện nay. Trên
cơ sở đó có một vài biện pháp chính sách đề nghị để cắt giảm tăng giá.

2
NỘI DUNG

I. Định nghĩa lạm phát:


Định nghĩa được nhiều người chấp nhận cho rằng lạm phát là sự gia tăng liên
tục của mức giá tổng quát. Tuy vậy, vẫn có một số ý kiến bất đồng cho rằng lạm
phát là phát hành tiền quá mức và do vậy chỉ gọi là lạm phát khi mà mức giá tổng
quát tăng bắt nguồn do tăng suất tăng cung tiền. Những ý kiến này cho rằng một số
cú sốc về phía cung hoặc phía cầu làm tăng mức giá tổng quát, chẳng hạn như tăng
tiền lương, tăng giá hàng hoá nhập khẩu, tăng giá lương thực phẩm thì không thể
gọi là lạm phát. Để xác định trong nền kinh tế có lạm phát thực sự hay không,
những ý kiến này cho rằng cần phải loại trừ những yếu tố trên khi phân tích xu
hướng của mức giá tổng quát.
Trong phân tích dài hạn, những lập luận trên không có gì mâu thuẫn nhau.
Về lý thuyết, mức giá tổng quát tăng khi tổng cung giảm hoặc tổng cầu tăng. Tổng
cung giảm có thể do cú sốc bất lợi về công nghệ, cung lao động giảm hoặc là giá
của yếu tố sản xuất tăng. Nhưng tổng cung giảm không gây ra sự tăng giá liên tục
trừ khi chúng được tiếp ứng bởi Ngân hàng Trung ương bằng cách tăng lượng tiền
liên tục. Tương tự, tổng cầu tăng có thể là do tăng tiêu dùng chính phủ, giảm thuế
hoặc do tăng cung tiền. Việc tăng tiêu dùng và giảm thuế của chính phủ là có giới
hạn nên không thể gây ra sự tăng giá liên tục chỉ trừ khi sự thâm hụt trong ngân
sách được tài trợ bằng cách phát hành tiền liên tục. Trong trường hợp này chỉ có
một yếu tố không có giới hạn là suất tăng cung tiền. Do vậy, có thể có nhiều yếu tố
làm tăng giá nhưng khi bàn đến lạm phát trong dài hạn, các nhà kinh tế thường đề
cập đến suất tăng cung tiền như là nguyên nhân của lạm phát. Khi xác định nền
kinh tế có lạm phát hay không, người ta quan tâm đến xu hướng tăng giá tổng quát
chứ không phải sự dao động đột ngột trong mức giá tổng quát.

3
II. Cách đo lường lạm phát:
Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát mà nó là suất tăng của mức giá
tổng quát theo thời gian. Vấn đề đặt ra trước tiên là mức giá tổng quát được tính
toán như thế nào?
Hai thước đo thông dụng phản ánh mức giá tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator). Chỉ số giá tiêu dùng là một tỷ số
phản ánh giá của rổ hàng hoá trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ
hàng hoá đó trong năm gốc. Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc
và sự lựa chọn rổ hàng hoá tiêu dùng. Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ
bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của
chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hoá tiêu dùng và trọng số cố định
dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hoá cơ bản của người dân thành thị
mua vào năm gốc. Những nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả
sinh hoạt là (1) không phản ánh sự biến động của giá hàng hoá tư bản; (2) không
phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong
phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hoá khác nhau theo thời gian.
Chỉ số điều chỉnh GDP là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất. Nó bao gồm tất cả
các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được
điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hoá và dịch
vụ vào giá trị gia tăng. Về mặt khái niệm, đây là chỉ số đại diện tốt hơn cho việc
tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế. Tuy nhiên, chỉ số giá này không phản ánh
trực tiếp sự biến động trong giá hàng nhập khẩu cũng như sự biến động của tỷ giá
hối đoái. Nhược điểm chính của chỉ số giá này là không thể hiện được sự thay đổi
của chất lượng hàng hoá khi tính toán tỷ lệ lạm phát và chỉ số không phản ánh được
sự biến động giá cả trong từng tháng.
Việt Nam trong những năm qua cũng sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để
tính tỷ lệ lạm phát và sử dụng nó cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ. Ngoài
những nhược điểm như phân tích ở trên, chỉ số này không phản ánh được tình hình

4
lạm phát khi mà nó thường xuyên dao động. Sự dao động trong ngắn hạn không có
liên quan gì đến áp lực lạm phát căn bản trong nền kinh tế và việc sử dụng chỉ số
này làm mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ có thể làm chệch hướng chính sách.
Với mục tiêu là ổn định tiền tệ trung hạn, chính sách tiền tệ nên tập trung vào xu
hướng tăng giá thay vì sự dao động của giá. Hiện nay trên thế giới cũng có sự đồng
thuận là nên có một chỉ số giá mà nó không bị tác động của những cú sốc tạm thời
để làm cơ sở cho hoạch định cũng như đánh giá hoạt động của chính sách tiền tệ.
"Lạm phát cơ bản" (core inflation) được xây dựng để đáp ứng yêu cầu này.
Eckstein (1981) cho rằng lạm phát cơ bản là sự gia tăng mức giá tổng quát xảy ra
khi nền kinh tế đạt được trạng thái toàn dụng. Bryan (1994) cho rằng lạm phát cơ
bản là lạm phát "tiền tệ" mà nó xảy ra là do cú sốc cung tiền. Nhìn chung, ta có thể
hiểu lạm phát cơ bản là một phần của lạm phát mà nó có thể được kiểm soát bởi
Ngân hàng Trung ương. Vấn đề còn lại là “lạm phát cơ bản” được tính toán như thế
nào? Trong những năm qua một số nước tính toán dựa vào phương pháp thống kê
mà nó tìm cách loại những hàng hoá có mức giá dao động mạnh như giá năng
lượng, giá thực phẩm. Thực tế đòi hỏi phải có một khung lý thuyết làm cơ sở cho
việc tính “lạm phát cơ bản”. Mankiw và Ries (2002) đưa ra một cách tính gọi là chỉ
số giá ổn định dựa vào khung lý thuyết tiền tệ của chu kỳ kinh tế. Chỉ số giá này là
chỉ số giá trung bình có trọng số, mà nếu đưa về mục tiêu thì hoạt động kinh tế sẽ
ổn định. Trọng số được sử dụng tính toán trong chỉ số đối với giá cả của các khu
vực khác nhau ngoài việc phải dựa vào cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình còn phải dựa
vào mức độ nhạy cảm của từng khu vực đối với chu kỳ, tốc độ mà giá trong mỗi
khu vực điều chỉnh khi điều kiện kinh tế thay đổi.
III. Nguyên nhân của lạm phát:
1. Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước:
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ta từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế
nước ta liên tục tăng trưởng với tỷ lệ cao trên 7% trong hơn 20 năm qua (trong 5
năm 2003-2007 GDP tăng bình quân trên 8%/năm). Đời sống nhân dân được tăng

5
lên, thu nhập GDP bình quân đầu người từ 402 USD năm 2000 tăng lên 836 USD
năm 2007, số hộ nghèo giảm dần, đời sống nông dân cải thiện rõ rệt, nhiều công
trình kinh tế xã hội được hoàn thành, hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới
(tổng kim ngạch xuất nhập khẩu VN năm 2007 chiếm 156% GDP), gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới WTO,.. VN được các nước trên thế giới đánh giá tốt và
khen ngợi.
Hiện nay nước ta đang đứng trước khó khăn thực sự, chỉ số giá cả tiêu dùng
tăng nhanh năm 2007 là 12.63% và 3 tháng đầu năm 2008 tăng trên 9%, đặc biệt là
cán cân thương mại năm 2007 thâm hụt lớn, nhập khẩu 62,7 tỷ USD tăng +39.6%
so với năm 2006, xuất khẩu 48.6 tỷ USD tăng 21,9%, nhập siêu 14,1 tỷ USD (năm
2006 nhập siêu 5 tỷ USD), nhập siêu chiếm tỷ lệ rất đáng lo ngại 19,8%GDP (lưu ý
việc nhập siêu tăng nhanh có yếu tố giá cả thế giới (xăng dầu, sắt thép, sợi bông,
chất dẻo..) tăng cao do đồng USD yếu), cán cân vãng lai thâm hụt ở tỷ lệ cao trên
6% GDP ở mức đáng lo ngại…
Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn suy giảm mạnh 4,9% năm 2007, dự
báo xuống 4% năm 2008, thương mại quốc tế giảm mạnh so với năm 2006. Nền
kinh tế Mỹ (chiếm ¼ GDP toàn thế giới) đang suy giảm chuyển qua suy thoái, ảnh
hưởng đến giá cả nguyên vật liệu, lương thực thực phẩm trên thế giới gia tăng đột
biến, lạm phát xảy ra ở nhiều nước, thị trường tài chính thế giới thiệt hại khoảng
3500 tỷ USD. Vì vậy bài toán kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay là bài toán
phức tạp và vô cùng khó khăn, vừa kiềm chế lạm phát, vừa đảm bảo tăng trưởng.
Do đó, khi triển khai giải pháp kiềm chế lạm phát, cần có sự đồng thuận và chia sẻ
của các cấp, của mọi người, của người đi vay và người cho vay, giữa ngân hàng và
doanh nghiệp, giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại, giữa người gởi
tiền và ngân hàng huy động vốn, giữa tổ chức xuất khẩu với tổ chức nhập khẩu,
giữa cái riêng và cái chung…Phải sử dụng cả giải pháp ngắn hạn (tỷ giá, lãi suất,
hạn mức, thắt lưng buộc bụng, trợ giá, trợ cấp …) và dài hạn (kiểm soát tín dụng,
chi tiêu công, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng năng suất lao động…).

6
Đặc biệt cần bình tĩnh đối phó vì chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm chống lạm phát
thành công trong những năm 1986-1988 lạm phát trên 300%/năm, năm 1991 lạm
phát là 61.5%, năm 1994 lạm phát là 12.7%…. năm 2007 lạm phát bùng nổ trở lại
trên thế giới và VN !
Hình: Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI)

Nguồn: IMF, International Financial Statistics


Trong hình cho thấy, từ năm 2004 đến 2007, lạm phát ở Việt Nam đã cao
hơn các nước láng giềng ngoại trừ Indonesia, một quốc gia đang đối mặt với những
vấn đề kinh tế, chính trị nghiêm trọng, năm 2004 CPI là 9.5%, 2005 là 8.4%, năm
2006 là 6.6%. Hiện nay, Việt Nam là nước có tỷ lệ lạm phát cao nhất trong các
nước Đông Á. Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI) cho đến tháng 12/2007 đã là 12.63%
(tháng 11/2007 là 9,45%) và chỉ trong 3 tháng đầu năm 2008 chỉ số CPI tại nước ta
đã lên tới 9.19%. Nguyên nhân tại sao? Giải pháp thế nào để vừa kiềm chế lạm
phát vừa đảm bảo tăng trưởng?
2. Nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam:
Trước hết ta xem xét, về mặt lý thuyết lạm phát có thể do các nhóm nguyên
nhân:
- Lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp tiền tệ mở
rộng, phản ánh thâm hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm hụt bằng tiền tệ,

7
thường là cội rễ của lạm phát cao. Một ví dụ kinh điển đó là những trận siêu lạm
phát ở Áo và Đức những năm 20 do mở rộng tiền tệ thái quá.
- Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát triển ngay
cả khi thất nghiệp và việc sử dụng nguồn lực còn thấp. Vì tiền lương (tiền công)
thường là chi phí sản xuất quan trọng nhất, sự gia tăng tiền lương không phù hợp
với tăng trưởng năng suất có thể khơi mào cho quá trình lạm phát. Nhưng lạm phát
do chi phí đẩy có thể không dai dẳng nếu chính sách tiền tệ tác động vào, trong
trường hợp đó, tiền lương tăng dẫn tới thất nghiệp cao hơn thay vì lạm phát cao
hơn.
- Lạm phát do cầu kéo: xảy ra do tổng cầu vượt trội đẩy mức giá chung lên
cao. Sự thúc đẩy của cầu có thể xuất phát từ những cú sốc bên trong hay bên ngoài
nhưng thường hình thành từ những chính sách thu chi ngân sách hay tiền tệ mở
rộng.
- Lạm phát trơ ì (lạm phát quán tính): có xu hướng dai dẳng ở cùng tỷ lệ
cho đến khi những sự kiện kinh tế gây ra nó thay đổi. Nếu lạm phát cứ đều đặn, tỷ
lệ lạm phát thịnh hành có thể được dự đoán và do đó được đưa vào các hợp đồng
tiền lương và tài chính, điều này lại tiếp tục duy trì nó. Tỷ lệ lạm phát quán tính đôi
khi ngụ ý lạm phát cơ bản hay cốt lõi.
Thông thường những cú sốc đối với nền kinh tế từ phía cung hay cầu làm
cho tỷ lệ lạm phát thực tế di chuyển lên trên hay xuống dưới tỷ lệ lạm phát cơ bản.
Các cú sốc chính về phía cầu bao gồm sự tăng nhanh của tổng cầu do dự đoán thu
nhập sẽ tăng.
Lạm phát do chính sách, lạm phát do cầu kéo được nhận thấy ở nhiều nền
kinh tế đang chuyển đổi, là kết quả của những chính sách thu chi ngân sách hạn chế
không đầy đủ và việc tài trợ bằng tiền cho thâm hụt ngân sách. Thông thường,
những cú sốc bên ngoài như những cú sốc xuất phát từ tăng giá năng lượng hay thu
hẹp thương mại với các bạn hàng truyền thống có xu hướng bổ sung cho áp lực lạm
phát.

8
Tại Việt Nam, các nguyên nhân phát sinh lạm phát trên đều xuất hiện ở Việt
Nam với những trọng số khác nhau ở những thời kỳ khác nhau. Năm 2007, là năm
mà các nguyên nhân đã tích tụ bấy lâu nay gặp cơn lốc lạm phát thế giới nên bùng
nổ lớn. Chúng ta có thể tạm chia làm hai nhóm nguyên nhân: bên trong và bên
ngoài để dễ xem xét khi đưa ra quyết định ngắn hạn và dài hạn.
a. Nguyên nhân bên ngoài:
Cũng như những quốc gia châu á khác, do đồng USD suy yếu trong những
năm gần đây đã tạo ra những cú sốc về tăng giá xăng dầu, giá vàng, giá lương thực
thực phẩm… từ đó tác động xấu đến giá cả ở Việt Nam. Giá cả thị trường thế giới
liên tục tăng cao, xăng dầu tăng (giá dầu thô từ 60 USD/thùng đầu năm 2007 tăng
lên trên 100 USD/thùng cuối năm 2007), sắt thép tăng 30%, phân bón tăng 20%,
lúa mì tăng 60%, sợi, bông, chất dẻo, … Đồng thời những mặt hàng nước ta xuất
khẩu (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, điều…) cũng xuất với giá tăng rất cao, đặc biệt
là giá lương thực phẩm tăng trên 30%, nên giá thu mua cũng tăng, từ đó làm ảnh
hưởng lớn đến giá cả chung trong nước, vả lại khi tính chỉ số CPI thì trọng số
lương thực thực phẩm ở ta chiếm tỷ lệ cao (42,85%), nhà ở vật liệu xây dựng chiếm
10%, giá xăng dầu trong năm 2007 tăng nhanh, giá vàng thế giới v trong nước tăng
rất cao, ảnh hưởng gián tiếp là tác động tâm lý đến các loại giá khác, nên CPI tăng
mạnh.
Tổng kim ngạch nhập khẩu của nước ta hiện nay trên 88% so với GDP
(Nhập khẩu khoảng 62.7 tỷ USD/ 71.2 tỷ USD) vì nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất
lớn vào nguyên nhiên vật liệu thế giới. Các nước lớn tỷ lệ này rất thấp như châu Âu
khoảng 25-30%, Mỹ 14,54%, Trung Quốc 26,69%…Tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu năm 2007 là 111,3 tỷ USD chiếm 156% GDP. Vì vậy khi đồng USD mạnh
(năm 1991, năm 1997-1998) ta gặp khó khăn (vì nhập siêu), USD yếu như hiện nay
ta cũng khó khăn! Tại sao những nước khác ít bị ảnh hưởng? Các nước đã quen với
sự tăng giảm của USD, họ hội nhập trước chúng ta nên đã có nhiều kinh nghiệm và
cũng đã gặp khủng hoảng nhiều lần (1997-1888). Trong năm 2007, để tự vệ, các

9
nước chủ động điều chỉnh tỷ giá linh hoạt theo hướng giảm giá USD (kể từ tháng
9/2007) và nâng giá bản tệ nhằm tránh ảnh hưởng lạm phát thế giới, như Thái Lan
giảm giá USD 4%, Singapore giảm giá USD 10.45%, Trung Quốc giảm giá USD
8.57%, Thụy sĩ giảm giá USD 16%, Philippine giảm giá USD 14%, Malaysia giảm
giá USD 7.25%…(xem biểu đồ 5-11). Trong khi năm 2007, VN chủ động ổn định
tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu (tổ chức xuất khẩu lãi cao) hỗ trợ mục tiêu tăng
trưởng…! (năm 2007, USD tăng giá 0.1% so với VND, trong 3 tháng đầu năm
2008, USD có điều chỉnh giảm khoảng 0.6%so với VND). Vì vậy, việc điều chỉnh
tỷ giá theo hướng giảm giá USD là sự điều chỉnh theo tín hiệu thị trường quốc tế,
chứ không phải là ta muốn tăng giá VND, vì không có chính phủ nào muốn tăng
giá đồng bản tệ. Đơn vị xuất khẩu phải hiểu rằng đó là sự điều chỉnh và phải chia sẻ
với khó khăn của nhiều người về căn bệnh lạm phát, điều quan trọng mà đơn vị
xuất khẩu kêu to là ngân hàng không mua USD, nên không có VND để thu mua,
mua chậm giá càng cao. Hiện nay NHNN đã mua hết nhưng đơn vị không bán nữa
vì USD có dấu hiệu tăng giá trong tương lai. Nếu NHNN VN chủ động điều chỉnh
tỷ giá linh hoạt theo hướng giảm giá USD từ tháng 9/2007 như nhiều nước, thì việc
kiềm chế lạm phát sẽ đỡ tốn kém. Vì trước sự suy giảm kinh tế và hệ thống ngân
hàng- tài chính Mỹ đang gặp khó khăn về tín dụng địa ốc, ngày 18/09/2007 FOMC
(The Federal Open Market Committee) Ủy ban thị trường mở của FED chính thức
quyết định khởi đầu đợt hạ lãi suất của quỹ liên bang (federal funds rate) từ 5.25%
xuống 4.75% và đến ngày 18/03/2008 là 2.25%, để tạo thanh khoản cho thị trường
tín dụng của các ngân hàng tại Mỹ, hỗ trợ thị trường chứng khoán, ngăn chặn suy
thoái, FED đã bơm vài trăm tỷ USD thông qua nghiệp vụ thị trường mở…Ngày
29,30 tháng 4 FED sẽ có cuộc họp quan trọng tiếp theo để xem xét việc có cắt giảm
lãi suất hay không?
b. Nguyên nhân bên trong:
- Chính sách tài khóa không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của căn
bệnh lạm phát ở nước ta. Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ đã có

10
những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên tục bội chi
ngân sách trong nhiều năm trn 5% GDP (năm 2007 bội chi khoảng trên 56.000 tỷ
đồng). Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả,
đầu tư dàn trải, gây lãng phí lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế
nước nhà, trong khi đồng lương của nhân dân lao động, những người công chức
nhà nước thì quá thấp so với thời giá, 30-40 năm làm việc trong cơ quan hành
chính, giáo dục, y tế… nhiều người không thể mơ nổi một căn nhà. Công tác xây
dựng, thẩm định, phê duyệt dự án, tổng dự án và thiết kế kỹ thuật quá chậm trễ, thủ
tục rườm rà và phức tạp. Việc chi tiêu thì không hiệu quả, tình trạng tham nhũng thì
gia tăng đã ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng vào cơ chế và bộ máy điều
hành của chúng ta. Đảng và Nhà nước đã thấy và đang điều chỉnh, như thành lập cơ
quan chống tham nhũng. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội ở Việt Nam trong vài năm
gần đây bình quân hàng năm trên 40% GDP và hệ số ICOR là 4,7 (có nghĩa là VN
hiện cần 4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng), hệ số này là rất cao so
với các nước khác trong khu vực. Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế
nên giá phải tăng.
- Trong năm 2007, và đầu năm 2008 Nhà nước chủ động thực hiện lộ trình
điều chỉnh theo giá thị trường đối với một số loại hàng hóa, vật tư cơ bản như: điện,
xăng dầu, than,… làm ảnh hưởng đến việc tăng giá các hàng hóa khác.
- Chính sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung tiền
(tổng phương tiện thanh toán) tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm 2006 là 33.6%,
năm 2007 là 53.8%, tổng cộng 3 năm cung tiền M2 tăng 134.2%, trong khi 3 năm
GDP chỉ tăng 25.09%. Chênh lệch giữa cung tiền tăng trong 3 năm qua (134.5%)
với tăng trưởng kinh tế GDP (25.09%) là rất lớn, chắc chắn sẽ đè nặng lên giá cả
trong nước, và cuối năm 2007, đầu năm 2008 nó bộc phát mạnh là do có sự cộng
hưởng bởi lạm phát quốc tế (USD yếu) và thiên tai.
Nếu dựa vào học thuyết “Định lượng tiền tệ - The quantity theory of money”
của Irving Fisher, ta có thể thấy rõ hơn quan hệ của nhân tố: cung tiền (M), tốc độ

11
vòng quay tiền tệ (V), giá cả (P), tổng sản phẩm quốc nội thực-GDP thực (Y), trong
phương trình: MV= PY. Vì vậy, nếu V, P không thay đổi thì P (giá cả) sẽ tăng
nhanh khi cung tiền M tăng nhanh, hoặc Y (GDP thực) có tăng nhưng tốc độ tăng
chậm hơn cung tiền, thì giá cả cũng tăng cao. Vì vậy, giải pháp kiểm soát cung tiền,
giảm tổng cầu luôn luôn là liều thuốc chống lạm phát trước tiên được các nước sử
dụng, nhưng với mức độ liều lượng khác nhau.
Tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, năm 2006 là
+29.7%, năm 2007 tăng dư nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43.7%, một số NHTM
tăng trên 70%. Các ngân hàng thương mại trong thời gian qua đã cung cấp được
một lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế để phát triển sản xuất
kinh doanh, cho vay tiêu dùng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cùng
với sự tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản, các
ngân hàng thương mại cũng sẵn lòng cho vay đối với những nhà đầu cơ trong lĩnh
vực này. Nguồn vốn huy động ngắn hạn của ngân hàng được đổ vào thị trường vốn
dài hạn nhiều rủi ro, nếu bong bóng bất động sản có vấn đề thì rủi ro tín dung là rất
lớn (Mỹ đang đau đầu vì tín dụng bất động sản hiện nay). Điều cần lưu ý, một trong
những nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng cao trong năm 2007 là do các ngân hàng
thương mại tăng vốn điều lệ lên nhanh + 56% (tăng 33.737 tỷ đồng), cuối năm
2006 tổng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là 60.419 tỷ đồng, cuối năm 2007 là
94.156 tỷ đồng, thành lập mới nhiều ngân hàng (cần xem xét lại điều kiện thành
lập), làm tăng khả năng cho vay và áp lực trả lãi cổ đông, áp lực tăng giá cổ phiếu
trên thị trường do năm 2006 giá cổ phiếu đã tăng chóng mặt.
- Trong những năm qua, với những thành tựu phát triển kinh tế nổi bật cùng
với chính sách thông thoáng, cởi mở, Việt Nam trở thành một điểm đến lý tưởng
của các nhà đầu tư nước ngoài. Lượng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam liên tục ở mức cao thông qua kênh đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp,…. Đầu
tư trực tiếp của nước ngoài trong năm 2007 dự kiến khoảng 10 tỷ USD, đến cuối
năm lên trên 20 tỷ USD (đã giải ngân 8 tỷ USD), đầu tư gián tiếp (khoảng 5 tỷ

12
USD), ODA cũng tăng nhanh (4.45 tỷ USD năm 2006, năm 2007 là 5.42 tỷ USD,
giải ngân 2 tỷ USD). Kiều hối tăng cao (kiều hối của trên 3 triệu người ở 94 quốc
gia gửi về nước năm 2007 đạt 6 tỷ USD); Việt kiều về nước ăn Tết đông hơn tăng
khoảng 30%, khách du lịch nước ngoài cũng tăng 17% so với cùng kỳ năm 2007
(ngoại tệ mang vào khoảng 3 tỷ USD). Lượng tiền Ngân hàng Nhà nước tung vào
để mua ngoại tệ (tăng tổng cầu) cũng rất lớn (khoảng 160.000 tỷ đồng) với tỷ giá
khoảng 16.000 VND/USD để giữ giá USD không làm ảnh hưởng nhiều đến xuất
khẩu (khoảng 10 tỷ USD đã được NHNNVN mua vào trong năm 2007). Nhà đầu tư
trong nước hay nước ngoài họ luôn vì mục tiêu lợi nhuận, nên khi có cơ hội thì họ
sẳn sàng nhảy vào bán USD giá cao, mua trái phiếu, gởi ngân hàng lãi suất cao và
sau đó bán trái phiếu lấy VND mua USD giá hạ… Năm 1997, khi USD mạnh,
nhưng các nước Đông Nam Á để tỷ giá cố định, nên đã bị đầu cơ tiền tệ lợi dụng và
tàn phá kinh tế. Đồng USD mạnh hay yếu (như hiện nay) đều có cơ hội cho nhà
đầu cơ tiền tệ chuyên nghiệp.
- Thiên tai, mưa bão, lũ lụt, những đợt rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc
gây thiệt hại năng nề: con người, tài sản, đất trồng, lương thực thực phẩm và dịch
bệnh (SARS, cúm gia cầm) ảnh hưởng đến giá cả thực phẩm…ảnh hưởng đến giảm
tổng cung.
- Chi phí sản xuất hàng hóa dịch vụ chưa hợp lý, sức cạnh tranh các sản
phẩm trong nước không cao, hiệu quả kinh tế thấp.
- Thu nhập của dân cư tăng (tăng tiền lương tối thiểu từ năm 2005, 2006,
2007). Việc tăng lương một phần gia tăng tổng cầu, mặt khác tạo tâm lý làm tăng
giá các hàng hóa tiêu dùng khác. Điều chỉnh tiền lương cho người lao động là cần
thiết trong giai đoạn lạm phát cao, nhưng cần điều chỉnh tiền lương vào những thời
điểm ít nhạy cảm (giữa năm).
- Một trong những nguyên nhân cũng góp phần vào mức lạm phát gia tăng
tại Việt Nam hiện nay là yếu tố tâm lý của người dân (cần kiểm soát thông tin).
Đặc biệt là yếu tố đầu cơ, găm hàng, làm giá rất “kinh nghiệm” (vì ta đã nhiều lần

13
bị lạm phát) của các đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ, các đại lý bán lẻ tại Việt
Nam.
3. Lạm phát được tính như thế nào?
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một
lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ
liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các
tạp chí kinh doanh cũng làm việc này).
Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra
một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập
hợp các sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số
này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng
như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Tuy nhiên,
thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là CPI - Chỉ số giá tiêu dùng (consumer
price index) đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hoá và dịch vụ khác
nhau, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế..., được mua bởi
"người tiêu dùng thông thường".
4. Lạm phát ảnh hưởng tới ai?
Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở thành
nạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều là người tiêu
dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là:
- Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất về
giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá đã
tăng lên gấp nhiều lần.
- Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền khiến
cho những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết kiệm
đánh mất của cải nhanh nhất.

14
- Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một món
hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp hơn.
Vậy ai là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì người sung
sướng nhất chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có vẻ nhẹ gánh hơn.
- Những người thuộc diện nghèo trong xã hội (thu nhập dưới 1USD/ngày):
đây là những người chịu hậu quả nặng nề nhất của lạm phát khi số tiền ít ỏi của họ
giờ đây không đủ cho 1 bữa ăn gia đình.
Tuy nhiên lạm phát ở mức độ vừa phải cũng có cái lợi, đó là nó góp phần
phân phối lại thu nhập trong xã hội, giữa những người thừa tiền và những người có
hàng hoá cần thanh lý. Sau khi lạm phát kết thúc thì tiền sẽ phân phối đều hơn, ít
trường hợp người này quá nhiều tiền còn người kia wá nhiều hàng nhưng lại thiếu
vốn.
IV. Giải pháp của chúng ta hiện nay:
1. Điều chỉnh mục tiêu kinh tế xã hội nước ta trong ngắn hạn và dài hạn. Xác
định việc kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu và cần có lộ trình, chặng sốt (3-6
tháng) và giảm sốt trong 2 đến 3 năm. Năm 2008, Chỉ số CPI ở mức 15-16 %, tăng
trưởng GDP ở mức 7-8%.
2. Cần có quan điểm thống nhất và đồng thuận trong điều hành. Thủ tướng
Chính phủ là người chỉ huy bộ máy kiềm chế lạm phát, Thống đốc NHNN và Bộ
trưởng Bộ tài chính là thường trực, Bộ trưởng các Bộ và các cơ quan ngang Bộ,
Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố là ủy viên. Tất cả các chính sách phải theo
đúng mục tiêu trên.
3. Làm tốt công tác tuyên truyền chủ trương của Đảng và Nhà nước, xác định
kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu, kiềm chế lạm phát là vì cái chung, vì đại
bộ phận nhân dân lao động và vì sự phát triển bền vững và lâu dài của kinh tế xã
hội nước ta. Do đó, phải có sự chia sẻ của mọi người, phải chịu đựng khó khăn
trước mắt và Chính phủ là người cần tiết kiệm đầu tiên, ngân sách nhà nước sẽ
dành những khoản chi nhất định cho việc kiềm chế lạm phát. Vì vậy, cần phải chọn

15
giải pháp ít tốn kém nhất, đừng lo ngại chính sách điều hành sẽ ảnh hưởng đến bộ
phận này, bộ phận khác, bám mục tiêu đã thống nhất là kiểm soát lạm phát là ưu
tiên hàng đầu, cắt sốt trước tiên rồi mới điều trị tiếp, để sốt cao liên tục là vô cùng
nguy hiểm.
4. Sử dụng tổng hợp các biện pháp ngắn hạn mang tính cấp bách (chặng sốt)
và dài hạn (giảm sốt và đi đến hết sốt)
5. Tập trung giải quyết tốt các chủ trương chính sách của Chính Phủ đã ban
hành và kịp thời tổng kết theo định kỳ để điều chỉnh giải pháp và liều lượng.
+ Giải pháp ngắn hạn: thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng dự trữ bắt
buộc, giảm số nhân tiền tệ, tăng lãi suất chiết khấu - tái chiết khấu, tái cấp vốn,
giảm cung tiền , kiểm soát dư nợ tín dụng, giảm giá USD theo tín hiệu thị trường
quốc tế để hạn chế một phần tác động của lạm phát quốc tế (nhiều nước đã làm từ
tháng 9/2007), cắt giảm và kiểm soát chi tiêu công một cach hiệu quả, chính phủ
phải thắt lưng buộc bụng, cắt giảm chi tiêu thường xuyên, giảm chi phí đi lại, kiểm
soát dòng vốn quốc tế, kiểm soát nợ ngắn hạn, trợ cấp những hộ nghèo khó khăn,
trợ cấp hộ chăn nuôi, đảm bảo an ninh lương thực, kiểm soát nhập khẩu bằng nhiều
giải pháp sắc với sự phối hợp với hệ thống NHTM với cơ quan thuế và Bộ Công
thương, giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng chiến lược và những mặt hàng thực
phẩm trong nước đang thiếu, tăng thuế tiêu thụ đặc biệt các mặt hàng chưa cần thiết
(kiểm soát tín dụng thương mại quốc tế, mua hàng trả chậm), Chính phủ ban hành
những Sắc lệnh mang tính cấp bách trong giai đoạn khó khăn (không tăng giá điện,
giá than, giá xăng dầu, dịch vụ giao thông đi lại…cho đến khi tình hình được kiểm
soát), chống đến cùng các nhóm đầu cơ găm hàng làm giá, buôn lậu (tội phá hoại
kinh tế). Trong điều hành kinh tế vĩ mô, Chính phủ cần lưu ý đến bộ ba không thể
có (Trinity Impossible): tỷ giá ổn định, tự do di chuyển vốn, chính sách tiền tệ độc
lập.
+ Giải pháp dài hạn : là việc làm thường xuyên: kiểm soát chi tiêu công một
cách hiệu quả, cải cách thủ tục hành chính, chống tham nhũng thường xuyên và

16
tích cực, chính sách tiền tệ theo hướng hỗ trợ vốn cho tăng trưởng trên cơ sở kiểm
soát tín dụng lành mạnh, điều hành tỷ giá linh hoạt theo hướng mở rộng biên độ và
theo tín hiệu thị trường, tiến tới hạn chế tối đa tình trạng đô la hóa tại VN, sử dụng
có hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ theo tín hiệu thị trường trong nước và
quốc tế (dự trữ bắt buộc, công cụ tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở..), kiểm
soát nhập siêu, đầu tư cho các lĩnh vực sản xuất có chất lượng hàng thay thế hàng
nhập khẩu: nhà máy lọc dầu, xi măng, phôi thép, phân bón, chất dẻo, thức ăn gia
súc, vải, giấy,.. (đầu tư dài hạn và có chính sách hỗ trợ đặc biệt để đẩy nhanh tiến
độ), hỗ trợ xuất khẩu thông qua nhiều giải pháp đồng bộ chứ không phải duy nhất
như chính sách tỷ giá (chất lượng sản phẩm, mẫu mã, chủng loại hàng, hạ giá thành
xuất khẩu, tài trợ tín dụng, hỗ trợ xúc tiến thương mại, chiến lược marketing quốc
tế, chất lượng chế biến, uy tín đơn vị xuất khẩu..), cải tiến kỹ thuật tăng năng suất
lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, đảm bảo
an ninh lương thực, khuyến khích và hỗ trợ tích cực cho việc phát triển nông
nghiệp - nông thôn, phòng trừ dịch họa và thiên tai, tăng cường công tác dự báo để
có chính sách kịp thời, tăng dự trữ ngoại hối quốc gia…
* Từ những phân tích ở trên tôi xin đưa ra một số khuyến nghị sau đây:
Thứ nhất, điều cốt lõi nhất đối với nước ta hiện nay là phải tập trung tăng
năng lực sản xuất trong nước mà trọng tâm hàng đầu là phải tăng cường đầu tư để
nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế. Muốn vậy, chính sách của Nhà nước
phải hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ; các
ngân hàng thương mại phải dành ưu tiên cho các khoản vay để nâng cao trình độ
công nghệ và doanh nghiệp phải coi hoạt động đổi mới là vấn đề sống còn của
mình.
Thứ hai, phải luôn luôn duy trì sự phối, kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền
tệ và tài khoá trong điều hành nền kinh tế. Trước mắt, cả hai chính sách cần tập
trung vào mục tiêu cắt giảm lạm phát. Trong thời gian tới, cần xây dựng lộ trình
thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu và nguyên tắc cân đối thu chi ngân sách.

17
Tăng cường hơn nữa vai trò của Ngân hàng Nhà nước bởi hai lý do: (1) trong điều
kiện nền kinh tế mở và tỷ giá ngày càng nới lỏng theo cơ chế thị trường, chính sách
tiền tệ ngày càng có tác động mạnh mẽ hơn đến các chỉ số kinh tế vĩ mô của nền
kinh tế; (2) để tiến tới thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu, Ngân hàng Nhà
nước phải thực sự có quyền hạn độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ
quốc gia.
Thứ ba, các chính sách của Nhà nước, nhất là chính sách tiền lương phải cần
nghiên cứu kỹ lưỡng để đưa ra cách thực hiện phù hợp, nhằm định hướng cho dân
chúng có kỳ vọng hợp lý, nhất là đối với vấn đề giá cả.

18
KẾT LUẬN

Kiềm chế lạm phát không phải là bài toán không có lời giải, vấn đề là cần
chấp nhận những thiệt hại nhất định cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, cho ngân
sách nước nhà. Vì vậy, cần có đồng thuận và chia sẻ của Chính phủ, doanh nghiệp
và nhân dân. Cần đặt nước ta trong nền kinh tế thế giới để có cái nhìn tổng hợp và
bình tĩnh hơn. Các Bộ, các ban ngành từ trung ương đến địa phương cần làm hết
sức mình, bằng những kế hoạch cụ thể để triển khai các chỉ đạo mà Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành. Những kết quả tốt đẹp sẽ đến với kinh tế Việt Nam nếu
chúng ta đoàn kết và có quyết tâm cao theo một đường lối thống nhất của Đảng và
Nhà nước ta.

19
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Hường (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc
làm. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, tổng quan đề tài cấp cơ sở,
Viện Kinh tế và Phát triển - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh.
2. GS.TS. Nguyễn Kế Tuấn. (2009). Kinh tế Việt Nam 2008, một số vấn đề
về điều hành kinh tế vĩ mô. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân.
3. GS.TS. Lê Sỹ Thiệp. (2002). Kinh tế học vĩ mô. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội.
4. Nguyễn Thái Thảo Vy. (2008). Kinh tế học vĩ mô. TP. Hồ Chí Minh: Nhà
xuất bản giáo dục.
5. Paul A Samuelson, Wiliam D. Nordhalls. 2007. Kinh tế học. Hà Nội: Nhà
xuất bản tài chính.
Báo cáo tình hình KT - XH năm 2009 và nhiệm vụ năm 2010: Chỉ tiêu tăng trưởng không đạt nhưng đã bứt phá thoát khỏi
khủng hoảng
Hôm qua 2.10, UBTVQH nghe và cho ý kiến về báo cáo của Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009 và phương hướng, nhiệm vụ 2010. Những vấn đề kinh tế
quan trọng của đất nước như tăng trưởng kinh tế, bội chi ngân sách, thu hút đầu tư...được đưa ra thảo luận. Sau phiên họp UBTVQH, những báo cáo quan trọng này sẽ được
trình ra QH tại kỳ họp tới.

7 chỉ tiêu không đạt kế hoạch


Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc năm nay, có 7/25 chỉ tiêu Quốc hội đề ra không đạt được. Đó là các chỉ tiêu về tạo việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, xuất
khẩu và tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Những chỉ tiêu này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng các năm sau. Các chỉ tiêu chủ yếu về tăng trưởng, chỉ
số giá tiêu dùng đều trong kế hoạch. GDP cả năm ước đạt 5,2%; chỉ số giá tiêu dùng tăng 7%; bội chi ngân sách chiếm khoảng 6,9% GDP. Nền kinh tế đã sớm thoát khỏi khủng
hoảng, tăng trưởng đạt mức khá so với nhiều nước.
Lý giải việc các chỉ tiêu không đạt theo kế hoạch báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Kinh tế - Ngân sách QH, đã chỉ ra các hạn chế. Bội chi ngân sách cao liên tiếp trong nhiều năm
gần đây. Mức bội chi 6,9% năm nay chưa tính đến các khoản chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ, các khoản Chính phủ vay về cho DN vay lại. Nợ Chính phủ tăng mạnh. Năm
ngoái, nợ Chính phủ khoảng 36,5% GDP; năm nay ước lên đến 40% GDP; năm 2010 dự kiến khoảng 44% GDP. Chính phủ đề xuất mức bội chi 6,5% GDP, nhưng UB Kinh tế
chưa đồng tình và đề nghị không quá 6%, đồng thời cần có kế hoạch cụ thể để giảm bội chi ngân sách nhà nước dưới 5% trong các năm sau. ủy ban Kinh tế khuyến cáo, nếu
không có giải pháp quyết liệt để giảm dần bội chi ngân sách thì trong vài năm tới, nợ Chính phủ sẽ tiến dần đến mức giới hạn an toàn được cảnh báo. Tăng trưởng tín dụng khá
nhanh, gây sức ép tăng lãi suất, sẽ dẫn đến hệ quả là tăng chi phí vốn, làm tăng giá thành sản xuất, khiến việc huy động vốn trái phiếu Chính phủ gặp nhiều khó khăn. 36/40
đợt phát hành trái phiếu không thành công.
ông Hà Văn Hiền, Chủ nhiệm UB Kinh tế khẳng định tại báo cáo thẩm tra tăng trưởng kinh tế vẫn theo quy mô chiều rộng, chất lượng tăng trưởng chưa cao, thể hiện ở chỉ số
ICOR, tăng lên trên 8 so với 6, 66 của năm trước.
Từ quý II năm nay xuất hiện tình trạng thiếu lao động trầm trọng với những ngành nghề cần nhiều lao động như may mặc, xây dựng... nhất là vùng phía Nam. Đây không chỉ là
hiện tượng mất cân đối cục bộ của nền kinh tế, mà bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa chính sách kinh tế với chính sách đào tạo nhân lực kéo dài nhiều năm. Trong khi đó, các
nguồn vốn đầu tư vẫn giải ngân rất chậm. Nhiều ý kiến cho rằng, cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng tập trung nhiều vào lĩnh vực bất động sản chỉ trong sáu
tháng đầu năm đã chiếm tới 60% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào VN. Như vậy, cơ cấu đầu tư như vậy vừa không tạo thêm được việc làm mới, ít tạo ra khả năng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lại không đẩy mạnh được xuất khẩu.
Chỉnh 3 chỉ tiêu lớn của năm 2010
Về kế hoạch năm 2010, Chính phủ đề xuất đều chỉnh 3 chỉ tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ tiêu CPI và tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu. UB Kinh tế đề nghị chỉ tiêu bội chi
ngân sách không quá 6% GDP (Chính phủ đề xuất mức 6,5%) và yêu cầu Chính phủ có kế hoạch cụ thể để giảm bội chi ngân sách xuống dưới 5% trong các năm sau.
UB Kinh tế của Quốc hội nhất trí với mục tiêu tăng trưởng 6,5% cho năm 2010, nhưng lại đề nghị hạ chỉ tiêu về bội chi ngân sách, nới chỉ tiêu về chỉ số giá tiêu dùng và tăng
tổng kim ngạch xuất khẩu so với đề xuất của Chính phủ. Về tốc độ tăng trưởng 2010, một số ý kiến cho rằng, với triển vọng phục hồi kinh tế thế giới, cùng với dự báo tốc độ
tăng trưởng kinh tế quí IV /2009 đạt trên 6,5%, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 có thể đạt 6,5- 7%. Tuy nhiên, nhiều ý kiến nhìn nhận, trong điều kiện các cân đối vĩ mô tuy
ổn định, nhưng chưa vững chắc, hiệu quả đầu tư chưa được cải thiện thì không nên quá tập trung vào tốc độ tăng trưởng mà nên chú trọng đến chất lượng tăng trưởng. Do

20
vậy, UB Kinh tế nhất trí đề nghị tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 khoảng 6,5%.
Từ nhận định năm 2010, giá cả trên thị trường quốc tế sẽ tăng cao hơn năm 2009 do tác động của phục hồi kinh tế. Nhu cầu trong nước sẽ tăng cao hơn đặc biệt là do tác động
của gói kích thích kinh tế và thực hiện chính sách tiền tệ, sự gia tăng tín dụng, chính sách tài khoá nới lỏng, sức ép lạm phát sẽ cao hơn năm 2009. Vì vậy, để chủ động hơn
cho công tác chỉ đạo điều hành, đề nghị chỉ tiêu chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 8%, thay vì khoảng 7% như đề xuất của Chính phủ.
Với mức dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 tăng 6% thì thực chất vẫn giảm khoảng 4,5% so với năm 2008. Đây là mức tăng còn thấp, do đó có ý kiến đề nghị chỉ tiêu
tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu 8-10%. Về bội chi ngân sách, Chính phủ đề xuất mức 6,5% GDP, nhưng UB Kinh tế chưa đồng tình và đề nghị không quá 6%.

21