Vous êtes sur la page 1sur 11

5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)[Phần I]

Trang chủ Văn hóa và đời sống Góc nhìn văn hóa Đất và người xứ Nghệ Du lịch Tin tức Mục lục

Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)
 
[Phần I]
  MAI HOA
Chủ nhật, 16 Tháng 12 2018 20:19
font size   Web  vhna

Tìm
Thích 4 Chia sẻ Tweet

BÀI NHIỀU NGƯỜI ĐỌC TRONG TUẦN
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành quốc gia lớn mạnh nhất hành tinh, là nước duy nhất sở
hữu vũ khí hạt nhân tại thời điểm đó và là một trong những nước có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo Từ nước đến gió… (Đọc Giấu vàng trong
an của Liên Hợp Quốc. Trong điều kiện bàn cờ thế giới về bản chất là cuộc chơi giữa các nước lớn, thì gió thu, Chân dung văn học ­ Đàm luận
với ngần ấy ưu thế, Mỹ không chỉ sở hữu tiếng nói trọng lượng trong giải quyết nhiều vấn đề quốc tế, văn chương của Khuất Bình Nguyên, Nxb
Hội Nhà văn, 2019)
mà nhiều diễn biến quốc tế sẽ vận động theo quan điểm, lập trường của Mỹ cũng như theo xu hướng
Hà Nội tranh luận đầu 1975 về đường lối
mà Mỹ mong muốn. chiến lược ở miền Nam

  Hậu  Chiến  tranh  thế  giới  thứ  hai,  một  câu  chuyện  có  tính  thời  sự  nóng  bỏng,  được  nhiều  nước  quan
tâm là về giải thuộc địa và phi thực dân hóa. Thái độ, chính sách của Mỹ về vấn đề này có ảnh hưởng
quan trọng đối với ý định, kế hoạch khôi phục quyền cai trị các thuộc địa của nhiều nước, trong đó có sự
quay lại Đông Dương (và Việt Nam) của người Pháp.
I.
Vào cuối thế kỷ 19, Hoa Kỳ là nước sở hữu số lượng và diện tích thuộc địa vào loại ít nhất thế giới trong
so sánh với nhiều nước đế quốc khác, nhất là với Anh và Pháp. Người dân Mỹ chỉ trích mạnh mẽ các
cường quốc châu Âu đang áp đặt chủ nghĩa thực dân lên các nước thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới.
Ở Đông Nam Á, Mỹ có thuộc địa duy nhất là Philippines, nơi Mỹ thiết lập quyền thống trị từ năm 1902;
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhin­ra­the­gioi/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1946­1954 1/8
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)[Phần I]

tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó, Mỹ đã không coi đây là “ách thống trị thực dân”, mà gọi đó là chế độ
"bảo hộ nhân từ" trên cơ sở chính phủ tự trị bản xứ có hiến pháp và quốc hội riêng. Mỹ tuyên bố bằng
con đường đó sẽ từng bước giúp nhân dân Philippines thực hiện tự trị, tự quản. Tháng 3­1934, Quốc hội
Mỹ thông qua Đạo luật Tydings­McDuffie, quy định sẽ thành lập một nước Philippines thịnh vượng chung
(Commonwealth of the Philippines) vào năm 1936. Nhà nước Philippines thịnh vượng chung sẽ tồn tại
trong vòng 10 năm và là hình thức nhà nước quá độ để tiến tới một nước Philippines độc lập vào năm
1946. Trong 10 năm quá độ (1936­1946), chế độ tự trị vẫn được duy trì ở Philippines và quyền lợi của
Mỹ vẫn được đảm bảo.
Sau  thất  bại  của  Mỹ  tại  Trân  Châu  Cảng  (12­1941)  quân  đội  Nhật  Bản  tấn  công  và  đánh  chiếm
Philippines, Manila rơi vào tay Nhật (2­1942). Một Ủy ban điều hành đất nước được thành lập từ hơn 30
thành viên của giới tinh hoa chính trị Philippines thân Nhật. Phối hợp với lực lượng quân sự Nhật Bản tại
Manila, Ủy ban này cai quản Philippines và tồn tại đến tháng 9­1943, khi nó được thay thế bằng sự ra
đời của nước Cộng hòa Philippines độc lập (Đệ nhị Cộng hòa Philippines) với Tổng thống là José Laurel
(được  lựa  chọn  bởi  người  Nhật).  Người  Nhật  đã  trao  trả  độc  lập  cho  Philippines  trong  nỗ  lực  tuyên
truyền về chủ nghĩa Liên Á.
Cuối năm 1944, Nhật Bản bị đánh bại, quân đội Mỹ chiếm lại Philippines và đến năm 1946 đã trao trả
độc lập cho quần đảo này. Cuối cùng, giấc mơ độc lập của nhân dân Philippines đã trở thành hiện thực.
Từ  trường  hợp  Philippines,  mô  hình  "bảo  hộ  nhân  từ"  được  Mỹ  coi  là  khuôn  mẫu  trong  giải  quyết  các
 
vấn đề liên quan đến thuộc địa sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó cũng là một trong những cơ sở để  
Mỹ  đề  xuất  chế  độ  ủy  trị  quốc  tế  đối  với  các  thuộc  địa  cũ  của  các  nước  đế  quốc.  Vào  năm  1941,  khi
Chiến tranh thế giới thứ hai còn đang diễn ra hết sức khốc liệt, Mỹ đã cam kết thực hiện nguyên tắc về BÀI NỔI BẬT
quyền tự quyết của các dân tộc thông qua việc cùng với Anh ra Tuyên bố chung Đại Tây Dương. Điều 3
Vua Hàm Nghi ­ Người nghệ sĩ hội họa và điêu
của bản Tuyên bố nêu rõ rằng hai nước này “tôn trọng quyền lựa chọn chính thể mình muốn của các khắc
dân tộc, ước mong thấy chủ quyền và chính phủ tự trị của các nước trước kia bị các nước khác dùng Từ «Sự Ðụng Ðộ Giữa Các Nền Văn Minh» và
Nhân Chủng Học nhìn lại Chủ Nghĩa Tương Ðối
sức mạnh tước mất quyền đó được lập lại”[1]. Một năm sau đó (năm 1942), những nội dung này một lần Văn Hoá
nữa  được  xác  nhận  và  nhấn  mạnh  lại  trong  dịp  26  quốc  gia  thông  qua  Hiến  chương  Đại  Tây  Dương. Giải thuộc địa và hậu thuộc địa
Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan
Tháng 6­1945, Hiến chương Liên Hợp Quốc được ký kết và trong phần Tuyên ngôn về những lãnh thổ
Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài
không tự trị đã yêu cầu các quốc gia thành viên có trách nhiệm hoặc đảm đương trách nhiệm “quản trị hoa
những lãnh thổ mà nhân dân chưa hoàn toàn tự quản trị được, thừa nhận nguyên tắc đặt quyền lợi của Lá bài tẩy trong Chiến Tranh Thương Mại Mỹ ­
Trung
nhân dân các lãnh thổ lên hàng đầu”[2], nhằm giúp các lãnh thổ đó được phồn vinh trong khuôn khổ của
80 năm thành lập ấp Hà Đông (Đà Lạt): Tổng
hệ thống hoà bình và an ninh quốc tế do Hiến chương định ra. đốc Hoàng Trọng Phu có vai trò như thế nào?
Thi tốt nghiệp THPT: Nên hay không?
Qua những diễn biến nói trên, có thể kết luận rằng, trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, về mặt
Nguy cơ từ một nền giáo dục gian lận
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhin­ra­the­gioi/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1946­1954 2/8
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)[Phần I]

lý thuyết, đã xuất hiện những điều kiện, những cơ hội cũng như khả năng cho các dân tộc thuộc địa và Phản biện Huntington: Sự đụng độ của các
định nghĩa
phụ thuộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Tuy nhiên, từ lý thuyết đến thực tiễn lại là câu chuyện khác Những giá trị tích cực và hạn chế trong nhân
–đó là cả một quãng đường dài, nhiều chông gai và hết sức gian nan. sinh quan của người Việt
Nhớ anh Mai Khắc Ứng
II.
Trước Chiến tranh thế giới hai, “như hầu hết người Mỹ, Franklin D. Roosevelt ít quan tâm hoặc biết đến
Đông Dương thuộc Pháp”[3]. Thật vậy, Việt Nam cũng như các thuộc địa của Pháp ở Đông Dương nằm
ở  ngoại  vi  quan  hệ  đối  ngoại  của  Mỹ.  Theo  Dixee  Bartholomew­Feis,  nước  Mỹ  và  F.D.Roosevelt  luôn
dành mối quan tâm hàng đầu cho châu Âu và khu vực Mỹ Latinh kề cận[4]. Những chú ý đầu tiên của
chính  quyền  F.D.Roosevelt  đến  tình  hình  Đông  Dương  liên  quan  tới  sự  kiện  Pháp  ­  Nhật  tranh  chấp
quần đảo Hoàng Sa (1939), dù thái độ lúc đó của Mỹ là ôn hòa và trung lập. Cùng với sự kiện này, Đông
Dương thuộc Pháp đã chiếm một vị trí nhất định trong tiềm thức của Tổng thống và nhân viên Bộ Ngoại
giao Mỹ nhưng chỉ với tư cách là “một khu vực địa lý không thể phủ nhận dưới sự kiểm soát của Pháp và
có  ý  nghĩa  quan  trọng  đối  với  chính  phủ  Tưởng  Giới  Thạch,  chứ  không  phải  như  một  vùng  đất  của
người bản xứ với những quyền và khát vọng của riêng mình"[5].
 
Vấn đề Đông Dương trở nên đậm nét hơn trong nhận thức của Mỹ, quan trọng thứ hai chỉ sau vấn đề
Trung Hoa Dân Quốc khi Pháp đầu hàng Đức (1940) dẫn đến khả năng Đông Dương có thể rơi vào tay
một thành viên phe Trục là Nhật Bản, nhất là khi nước Nhật ngày càng lấn tới, đưa thêm yêu sách về
chia sẻ quyền lực tại khu vực này và không ngừng gia tăng sức ép lên Chính phủ Vichy. Hơn thế, Nhật
Bản đã trở nên nguy hiểm hơn đối với Hoa Kỳ khi ký Hiệp ước ba bên với Đức và Ý (9­1940); qua đó liên
kết những cuộc xung đột ở châu Âu và châu Á không chỉ chống Liên Xô mà còn nhằm cả vào Mỹ. Trước
nguy cơ bành trướng sức mạnh của Nhật ở Đông Dương, Mỹ yêu cầu “chính phủ Nhật phải ngừng mọi
hành động chiếm đóng Đông Dương bằng quân đội và hải quân, hoặc ngừng ngay những khởi sự đang
bắt đầu”[6]. Mỹ cũng đề nghị Nhật Bản cùng cam kết “coi Đông Dương là một quốc gia trung lập cùng
một cách thức như nước Thụy Sĩ mà các cường quốc đã công nhận là quốc gia trung lập”[7]; đồng thời,
hứa  nếu  Nhật  Bản  tuân  thủ  những  điều  kiện  đó,  sẽ  đảm  bảo  cho  Nhật  Bản  quyền  lợi  được  cung  cấp
nguyên liệu từ Đông Dương trên cơ sở cân bằng với các nước khác. Trước khi sự kiện Trân Châu Cảng
nổ ra, Hoa Kỳ thậm chí vẫn còn xúc tiến và hy vọng ký được một Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với
Nhật. Tuy nhiên, không chấp nhận chia sẻ quyền lợi, Tokyo đã quay lưng lại với hầu hết những đề nghị
của  Washington,  tiếp  tục  xúc  tiến  kế  hoạch  bành  trướng  toàn  Đông  Nam  Á.  Đáp  trả,  Hoa  Kỳ  sử  dụng
biện pháp trừng phạt kinh tế, đánh mạnh vào nền sản xuất công nghiệp quốc phòng của Nhật, kiềm chế
sức mạnh quân sự của quốc gia này (thực hiện lệnh cấm vận dầu mỏ, sắt, thép vụn, đóng băng mọi tài
sản của Nhật tại Mỹ[8]). Phản ứng của Washington trước việc Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương quyết

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhin­ra­the­gioi/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1946­1954 3/8
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)[Phần I]

liệt hơn so với dự kiến   của Tokyo; tuy nhiên, các lệnh cấm vận của Mỹ chẳng những không ngăn được
quyết  tâm  giành  lấy  Đông  Dương  của  Nhật,  mà  trái  lại,  còn  khiêu  khích  và  đẩy  nước  này  vào  những
hành động chiến tranh quyết đoán hơn ­ cái vòng luẩn quẩn đó cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ hoàn
toàn quan hệ Mỹ­Nhật sau sự kiện Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng (12­1941).
Chiến tranh với Nhật Bản (chiến tranh Thái Bình Dương) củng cố thêm tầm quan trọng địa chính trị của
Việt  Nam  đối  với  Mỹ.  Mỹ  nhận  thức  Việt  Nam  từ  vị  trí  bàn  đạp  để  Nhật  Bản  tấn  công  Philippines,
Malaysia,  Singapore,  Indonesia,  Trung  Quốc;  đồng  thời,  coi  việc  chiếm  Đông  Dương  của  Nhật  như  là
một bước tiếp theo quan trọng hơn nhằm nắm quyền kiểm soát vùng biển phía Nam, bao gồm các con
đường thương mại hết sức quan trọng đối với Hoa Kỳ và nhằm kiểm soát các sản phẩm chiến lược đối
với phát triển kinh tế như cao su, thiếc, dầu mỏ…. Khi chiến tranh Thái Bình Dương vừa bùng nổ, trong
các cuộc thảo luận với mật độ tương đối dày đặc giữa đại diện Mỹ Peter Marshall với đại diện chính phủ
Pháp, vấn đề Đông Dương đã liên tục được nhắc tới và Washington bày tỏ sự quan tâm đến việc Pháp
bảo tồn các vùng lãnh thổ ở ngoài (các thuộc địa của Pháp), yêu cầu Pháp tiến hành chiến tranh chống
lại các cuộc xâm lược của những nước thuộc khối Trục tại các khu vực đó. Washington cam kết: “Mọi
cuộc chiến đấu của chính quyền Pháp chống phát xít ở bất kỳ vùng thuộc địa nào cũng sẽ nhận được
sự ủng hộ không chỉ về tinh thần mà còn cả sự hỗ trợ vật chất từ chính phủ Mỹ”[9]. 
Có  thể  thấy  rằng,  sự  quan  tâm  của  Mỹ  đối  với  quyền  cai  trị  thuộc  địa  của  Pháp  xuất  phát  từ  yêu  cầu
đảm  bảo  thắng  lợi  của  phe  Đồng  minh  trước  khối  Trục,  được  giới  hạn  chủ  yếu  trong  phạm  vi  bảo  vệ  
những  vùng  đất  này  khỏi  sự  chiếm  đoạt  của  các  nước  phát  xít,  chứ  chưa  hẳn  là  sự  thừa  nhận  hoặc THƯ VIỆN ẢNH
đồng ý với việc Pháp tiếp tục thống trị những lãnh thổ này khi chiến tranh kết thúc. Vì lẽ đó, vào tháng 1­
1943, trong cuộc họp Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, Tổng thống F.D.Roosevelt tuyên bố rằng
ông  "đã  rất  hồ  nghi  về  việc  khôi  phục  chế  độ  thực  dân  của  Pháp  ở  Đông  Dương"[10].  Tại  Hội  nghị
Casablanca  (10­1943),  Hội  nghị  Tehran  (11­1943)  và  Hội  nghị  Cairo  (11­1943),  vấn  đề  số  phận  thuộc
địa  của  Pháp  tiếp  tục  được  đặt  ra.  Đặc  biệt,  ở  Hội  nghị  Cairo,  F.D.Roosevelt  đã  đề  xuất  áp  dụng  tại
Đông Dương chế độ quản thác quốc tế và đã tìm được tiếng nói chung với Tưởng Giới Thạch về vấn đề
độc  lập  của  Đông  Dương  sau  khi  chiến  tranh  kết  thúc[11].  Chế  độ  quản  thác  quốc  tế  đối  với  Đông
Dương được F.D.Roosevelt nhắc lại một lần nữa trong buổi thảo luận với các đại diện của Thổ Nhĩ Kỳ,
Ai Cập và sau đó là trong Hội nghị Tehran. Thông báo cho I.V.Stalin về quan điểm của Churchill­ người
ủng hộ việc khôi phục quyền kiểm soát của Pháp đối với các thuộc địa, F.D.Roosevelt lưu ý: “Sau 100
năm  thống  trị  của  Pháp  ở  Đông  Dương,  người  dân  nơi  đây  có  cuộc  sống  ngày  càng  tồi  tệ  hơn
trước”[12].
Trong hai năm 1943­1944, vấn đề Đông Dương được F.D.Roosevelt nhiều lần đề cập đến. Thảo luận về
VIDEO CLIP
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhin­ra­the­gioi/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1946­1954 4/8
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)[Phần I]
VIDEO CLIP
những vấn đề hậu chiến với Ngoại trưởng Anh Anthony Eden (3­1943) hay trong tiếp xúc với Đại sứ Anh
Halifax  tại  Washington  (1­1944),  F.D.Roosevelt  luôn  nhắc  đến  kế  hoạch  ủy  trị  đối  với  Đông  Dương  và
phê phán chính sách thuộc địa của Pháp: “Người Pháp đã bòn rút nơi này 100 năm, các dân tộc Đông
Dương đáng được hưởng một cái gì đó tốt hơn thế"[13]; đề nghị thay vào việc trao trả Đông Dương lại
cho Pháp thì nên đặt Đông Dương dưới sự ủy trị quốc tế và chuẩn bị cho nền độc lập của Đông Dương
sau này. Tại Hội nghị Yalta (2­1945), F.D.Roosevelt tiếp tục nhấn mạnh rằng, dưới sự cai trị của người
Pháp "Đông Dương đã không đạt được bất kỳ tiến bộ nào"; do đó, chế độ quản thác quốc tế là một sự
lựa chọn thích hợp[14] và quan điểm này của Mỹ nhận được sự tán thành của Liên Xô­ sự ủng hộ này là
rất quan trọng, nó làm tăng khả năng hiện thực hóa quan điểm này trong thực tiễn.
Sáng kiến thiết lập chế độ ủy trị quốc tế đối với Đông Dương của F.D.Roosevelt vấp phải sự phản ứng
quyết  liệt  của  Anh  (quốc  gia  sở  hữu  chuỗi  thuộc  địa  lớn  nhất  toàn  cầu)  và  một  số  quan  chức  Mỹ.  Sự
phản đối này lớn dần lên khi cuộc chiến chống lại Nhật Bản ngày càng cần huy động nhiều nhân lực, vật
lực  trong  khi  Pháp  có  thể  đáp  ứng  phần  nào  yêu  cầu  này.  Bên  cạnh  đó,  Ủy  ban  An  ninh  quốc  gia  Mỹ
cũng cho rằng, việc Pháp khôi phục chế độ thuộc địa “góp phần làm nó trở nên lớn mạnh hơn và đó là
một đối trọng tốt trước nước Nga cộng sản, có lợi cho chính sách hậu chiến của Washington trong thế
đối đầu với Moscow”[15]. Ngoài ra, một số quan chức cấp cao của Washington còn muốn tránh những
va vấp và xung đột không cần thiết với nước Anh chỉ vì Đông Dương khi Hoa Kỳ còn cần đến sự ủng hộ
Videoclip
của quốc gia này trong nhiều vấn đề quốc tế khác.
Dưới những áp lực nêu trên, F.D.Roosevelt buộc phải nhượng bộ và trong cuộc họp báo vào tháng 2­
1945, đã điều chỉnh chủ trương ủy trị quốc tế đối với Đông Dương, mở rộng thành phần tham gia, đồng
ý để Pháp có mặt trong Hội đồng ủy trị quốc tế với điều kiện Pháp coi độc lập của Đông Dương là mục
tiêu chính[16]. Tháng 2­1945, tại Hội nghị Yanta, Mỹ (và cả Liên Xô) tuyên bố không nhất thiết phải áp
dụng chế độ ủy trị quốc tế đối với các thuộc địa của các nước đế quốc[17]. Cũng từ thời điểm này cho
đến khi ngã bệnh và mất (4­1945), Tổng thống F.D.Roosevelt không còn trở lại với yêu cầu thiết lập chế
độ quản thác quốc tế đối với Đông Dương cũng như thôi không theo đuổi kế hoạch tương lai của Đông
Dương, đẩy nó lùi vào những vấn đề hậu chiến: “Tôi không muốn dính líu vào bất cứ quyết định nào về
Đông Dương. Vấn đề này cần giải quyết sau khi chiến tranh kết thúc”[18]. Tương tự, F.D.Roosevelt cũng
không muốn thúc đẩy các nỗ lực quân sự để giải phóng Đông Dương khỏi sự thống trị của Nhật Bản,
giải thích rằng tất cả các nguồn lực cần được tập trung cho chiến tranh Thái Bình Dương.
Như  vậy,  dù  rất  cố  gắng,  song  F.D.Roosevelt  đã  không  thể  đưa  ra  những  giải  pháp  dứt  điểm  cho  số
phận Đông Dương hậu chiến. Người ta cũng nhận thấy rằng, dù nhiều lần nhắc đến chế độ quản thác
quốc  tế  đối  với  Đông  Dương,  song  trên  thực  tế,  F.D.Roosevelt  đã  không  hành  động  quyết  liệt.  Nhà

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhin­ra­the­gioi/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1946­1954 5/8
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)[Phần I]

nghiên  cứu  Sanford  B.  Hunt  cho  biết:  “Không  có  một  bằng  chứng  nào  cho  thấy  Tổng  thống
F.D.Roosevelt từng ra lệnh hoặc yêu cầu soạn thảo các kế hoạch cụ thể nhằm thiết lập chế độ ủy trị cho
Đông  Dương”[19].  Dixee  Bartholomew­Feis  ­  tác  giả  cuốn  sách  “OSS  và  Hồ  Chí  Minh:  Đồng  minh  bất
ngờ  trong  cuộc  chiến  chống  phát  xít  Nhật”  gọi  kế  hoạch  quản  thác  quốc  tế  cho  Đông  Dương  của
F.D.Roosevelt là một kế hoạch lỏng lẻo, dù đó là kế hoạch mà thông qua đó, F.D.Roosevelt hy vọng nó
“sẽ cho phép Mỹ thiết lập các căn cứ hải quân, không quân dài hạn tại những vị trí chiến lược trên Thái
Bình Dương và bất kỳ những nơi không tồn tại mối ác cảm truyền thống đối với quan điểm chính trị dựa
vào sức mạnh của Mỹ"[20]. Gabriel Kolko thì khẳng định rằng, việc loại bỏ quyền lực của Pháp tại các
thuộc địa được thúc đẩy bởi mong muốn trừng phạt sự hợp tác của Pháp với Đức và Nhật Bản, hơn là vì
một niềm tin thực sự vào giá trị nội tại của tự do cho Việt Nam[21]. Ý tưởng về ủy thác quốc tế đối với
Đông Dương quả thực là mong manh và nó càng trở nên dễ vỡ trước áp lực được các đồng minh của
nước Mỹ bền bỉ tạo ra cũng như sức nặng ngày càng lớn các lợi ích quốc gia của Mỹ, để cuối cùng nó
lặng lẽ chết cùng với sự ra đi của F.D.Roosevelt.
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­
[1] Báo Sự thật, số 32, ngày 20 ­ 4­1946
[2] Charter of the United Nations, United Nations, http://www.un.org/en/charter­united­nations/index.html
[3]  Dixee  Bartholomew­Feis:  The  OSS  and  Ho  Chi  Minh:  Unexpected  Allies  in  the  War  against  Japan,
University Press of Kansas, 2006, p.197.
[4] Dixee Bartholomew­Feis: The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.199.
[5] Dixee Bartholomew­Feis: The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.199.
[6]  The  Pentagon  Papers  Gravel  Edition  (Chapter  I,  "Background  to  the  Crisis,  1940­50”),  Volume  1,
Boston: Beacon Press, 1971.
[7] The Pentagon Papers Gravel Edition, Ibid.
[8] Kết quả là Nhật Bản bị mất ¾ quan hệ kinh tế ­thương mại với nước ngoài; mất 88 % lượng dầu nhập
khẩu dẫn đến dự trữ dầu của Nhật Bản chỉ đủ dùng cho ba năm thời bình hoặc 1,5 năm thời chiến.
[9] The Secretary of State to the Ambassador in France// Foreign Relations of the United States (FRUS),
1942. Vol. II. Wash, 1962, p. 124.
[10] Hess G. R: Franklin Roosevelt and Indochina, The Journal of American History, 1972, Vol. 59, № 2,
p.355.
[11] Foreign Relations of the United States, The Conferences at Cairo and Tehran, 1943, Wash, 1961, p.
325.
[12] Foreign Relations of the United States, The Conferences at Cairo and Tehran, Ibid, p. 485.

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhin­ra­the­gioi/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1946­1954 6/8
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)[Phần I]

[13]  foreign  Relations  of  the  united  States  1944,  Government  Printins  Office,  Washington,  D.C.,  1965,
Vol III, p. 773.
[14] United States Department of State: Foreign relations of the United States. Conferences at Malta and
Yalta, 1945, U.S. Government Printing Office, 1945, p.770.
[15] Smith T. O: Churchill, America and Vietnam, 1941­ 1945, Palgrave Macmillan UK,2011, p.12.
[16]  Thomas  G.  Paterson  and  Dennis  Merrill  (Edited):  Major  Problems  in  American  Foreign  Policy,
Volume II: Since 1914, 4th edition, Lexington, MA: D.C. Heath and Company, 1995, p. 190.
[17] United States Department of State: Foreign relations of the United States. Conferences at Malta and
Yalta, 1945, Ibid, p.977.
[18] Hess G. R: Franklin Roosevelt and Indochina, Ibid, p.363.
[19] Sanford B. Hunt, IV, B.A: Dropping the baton: decisions in United States policy on Indochina, 1943­
1945, A Thesis in History, Texas Tech University, p.97.
[20] Dixee Bartholomew­Feis: The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan,
Ibid, p.201.
[21]  Gabriel  Kolko:  The  United  States  in  Vietnam  1944­66:  Origins  and  Objectives  of  an  Intervention
Objectives of an Intervention, Outsider Insight, 2014, p.15.

..........

CÒN NỮA

Từ khóa:  phap tai chiếm dong dương (1946 1954  Hoa kỳ  franklin d roosevelt

Tweet Thích 4 người thích nội dung này. Hãy là người


đầu tiên trong số bạn bè của bạn.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN:
Chưa có tiền lệ!

Ghi chép trung thực về sự kết thúc chiến tranh Việt Nam:

Tương lai dân chủ xã hội của Mỹ

Tháng 10­2013: bước suy thoái của siêu cường Hoa Kỳ

Đảng Cộng Hoà làm lung lay niềm tin vào nền Dân Chủ Mỹ

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhin­ra­the­gioi/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1946­1954 7/8
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946) [Phần 2]

Trang chủ Văn hóa và đời sống Góc nhìn văn hóa Đất và người xứ Nghệ Du lịch Tin tức Mục lục

Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946)
 
[Phần 2]
  MAI HOA
Thứ tư, 19 Tháng 12 2018 10:41
font size   Web  vhna

Tìm
Thích 5 Chia sẻ Tweet

BÀI NHIỀU NGƯỜI ĐỌC TRONG TUẦN
III.
Sau  cái  chết  của  F.D.Roosevelt,  người  kế  nhiệm  H.S.Truman  từng  bước  điều  chỉnh  chính  sách  đối Từ nước đến gió… (Đọc Giấu vàng trong
gió thu, Chân dung văn học ­ Đàm luận
ngoại; theo đó, H.S.Truman đã xem xét lại một cách căn bản ý tưởng thiết lập chế độ quản thác quốc tế
văn chương của Khuất Bình Nguyên, Nxb
đối  với  Đông  Dương  của  F.D.Roosevelt.  Mỹ  dần  thay  đổi  thái  độ,  trở  nên  mềm  mỏng  hơn  và  Ngoại Hội Nhà văn, 2019)
trưởng  Mỹ  E.R.Stettinius  đã  khẳng  định  với  Ngoại  trưởng  Pháp  Georges  Bidault  như  sau:  "Mỹ  chưa Hà Nội tranh luận đầu 1975 về đường lối
chiến lược ở miền Nam
từng đặt vấn đề nghi ngờ chủ quyền của pháp ở Đông Dương mặc dù một số chính giới ở Mỹ có chỉ
trích chính sách trước đây của Pháp đối với khu vực này"[1]. Tuy nhiên, cần ghi nhận rằng, dù từ bỏ
chính sách loại người Pháp ra khỏi mảnh đất này, bỏ qua những nỗ lực mà Tổng thống F.D.Roosevelt
theo  đuổi  một  thời  gian  dài  trong  giải  quyết  vấn  đề  Đông  Dương,  song  Washington  vẫn  mong  muốn
Pháp trao cho Đông Dương quyền tự trị[2]. Trong Hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc (8­5­1945), tuyên
bố không phản đối chủ quyền Pháp ở Đông Dương, song Bộ Ngoại giao Mỹ yêu cầu Pháp cải thiện điều
kiện chính trị, kinh tế ở bán đảo này, bày tỏ hy vọng sớm nhìn thấy một Đông Dương tự trị. Tại Hội nghị
Potsdam (7­1945), sự lập lờ nước đôi của Hoa Kỳ về Đông Dương được chứng thực bởi quyết định cho
phép người Anh giải giáp quân đội Nhật ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào phía Nam. Điều đó cũng có
nghĩa là đã tạo ra một đảm bảo chắc chắc từ phía các nước Đồng minh đối với sự trở lại Đông Dương
của người Pháp, bởi hơn ai hết, Anh luôn là nước trung thành với quan điểm duy trì chế độ thuộc địa

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhung­goc­nhin­van­hoa/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1945­1946­phan­2 1/6
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946) [Phần 2]

cũng như kiên quyết ủng hộ Pháp trở về lãnh địa Đông Dương­ trên lập trường ấy, việc Anh giúp Pháp
tái chiếm Đông Dương là tất yếu.

  Tháng  8­1945,  Chính  phủ  Hồ  Chí  Minh  nắm  quyền  lãnh  đạo  đất  nước,  tuyên  bố  thành  lập  nước
VNDCCH.  Trước  đó,  sớm  nhận  thấy  vai  trò  của  Mỹ  trong  giải  quyết  các  vấn  đề  quốc  tế,  ngay  từ  năm
1944, Hồ Chí Minh đã thiết lập quan hệ với tổ chức Office of Strategic Services (OSS) của Mỹ đang hoạt
động ở miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, hy vọng rằng hợp tác với Hoa Kỳ có thể mang lại
sự  ủng  hộ  của  Washington  đối  với  vấn  đề  độc  lập  của  Việt  Nam  sau  chiến  tranh.  Sau  khi  Cách  mạng
tháng Tám thắng lợi, tin tưởng ở thiện chí của nước Mỹ, Chính phủ Hồ Chí Minh đã liên tiếp gửi công
hàm,  thư,  điện  đến  Tổng  thống  H.S.Truman  và  Ngoại  trưởng  G.Byrnes,  đề  nghị  can  thiệp,  buộc  Anh
chấm dứt những hành động vi phạm quyền dân tộc của Việt Nam, yêu cầu người Anh thực hiện những
nguyên  tắc  tự  do,  tự  quyết  của  Hiến  chương  Đại  Tây  Dương[3].  Không  dưới  một  lần,  Hồ  Chí  Minh  đề
nghị nước Mỹ với tư cách là những chiến sĩ bảo vệ công bằng thế giới có những bước đi quyết định ủng
hộ  nền  độc  lập  của  Việt  Nam.  Đặc  biệt,  để  tranh  thủ  sự  ủng  hộ  của  Mỹ  cũng  như  một  số  nước  khác,
“phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng
của  nước  nhà”[4],  Đảng  cộng  sản  Đông  Dương  đã  tuyên  bố  tự  giải  tán  (11­1945);  đồng  thời,  Hồ  Chí
Minh tranh thủ mọi cơ hội để bày tỏ với Mỹ về việc Việt Nam hy vọng sự giúp đỡ từ nước này hơn là từ
Liên Xô[5].
Trước  những  yêu  cầu  khẩn  thiết  của  Chính  phủ  Hồ  Chí  Minh,  phản  ứng  của  Mỹ  là  khá  bất  lợi  ­  
 
Washington đã im lặng. Cánh cửa hy vọng của Việt Nam DCCH từ phía Mỹ đã bị khóa chặt, bởi tin tức
OSS gửi về (OSS có mặt tại Hà Nội ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công) đã khẳng định chắc
BÀI NỔI BẬT
chắn rằng, Việt Minh hoàn toàn là một tổ chức cộng sản[6] và sự kiện Đảng CSĐD giải tán chỉ là một
bước đi sách lược. Trong khi đó, từ tháng 8­1945, nước Pháp không ngừng hứa hẹn sẽ cho phép cả Mỹ Vua Hàm Nghi ­ Người nghệ sĩ hội họa và điêu
khắc
và Anh tiếp cận, khai thác các nguồn lực kinh tế của Đông Dương sau khi Pháp quay trở lại[7]. Và việc gì Từ «Sự Ðụng Ðộ Giữa Các Nền Văn Minh» và
đến đã phải đến ­ vào cuối tháng 8­1945, Tổng thống H.S.Truman chính thức tuyên bố với Tổng thống Nhân Chủng Học nhìn lại Chủ Nghĩa Tương Ðối
Văn Hoá
Pháp  Charles  de  Gaulle  đang  ở  thăm  Washington  rằng,  Hoa  Kỳ  ủng  hộ  sự  trở  lại  Đông  Dương  của Giải thuộc địa và hậu thuộc địa
Pháp[8]. Quyết định này của Nhà Trắng được đánh giá là một trong những quyết định có tính định hình Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan
tiến trình lịch sử thế giới và khu vực Đông Nam Á trong nhiều thập kỷ sau đó. Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài
hoa
Tháng 9­1945, thực hiện nhiệm vụ vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật Bản theo quyết định của Lá bài tẩy trong Chiến Tranh Thương Mại Mỹ ­
Hội nghị Potsdam, quân đội Anh đã tái vũ trang cho tù binh Pháp. Ngày 23­9­1945, được người Anh hậu Trung
80 năm thành lập ấp Hà Đông (Đà Lạt): Tổng
thuẫn, quân đội Pháp đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện cuộc tái chiếm Việt Nam và Đông Dương. Sự thay đốc Hoàng Trọng Phu có vai trò như thế nào?
đổi thái độ của Mỹ đối với Đông Dương đã tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho Pháp quay trở Thi tốt nghiệp THPT: Nên hay không?
Nguy cơ từ một nền giáo dục gian lận
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhung­goc­nhin­van­hoa/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1945­1946­phan­2 2/6
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946) [Phần 2]

lại nơi này, nhất là khi Pháp có được sự giúp đỡ của người đồng cảnh ngộ và đồng lợi ích trên vấn đề Phản biện Huntington: Sự đụng độ của các
định nghĩa
thuộc địa là nước Anh. Cần nói thêm rằng, dù không chống lại việc Pháp tái lập quyền thống trị đối với Những giá trị tích cực và hạn chế trong nhân
Đông Dương, song Mỹ vẫn e ngại quyết định này làm hỏng hình ảnh một nước Mỹ phản đối chính sách sinh quan của người Việt
Nhớ anh Mai Khắc Ứng
thực dân; do đó, tháng 10­1945, khi tuyên bố “không phản đối việc tái lập quyền kiểm soát Đông Dương
của Pháp”[9], Mỹ đồng thời khẳng định không ủng hộ người Pháp thiết lập quyền thống trị đối với Đông
Dương bằng vũ lực, chỉ chấp nhận cho Pháp lập lại sự kiểm soát ấy trên cơ sở có được sự ủng hộ của
dân chúng Đông Dương. Có vẻ như Mỹ giữ thái độ trung lập, không chấp nhận chính quyền VNDCCH
cũng không giúp Pháp đánh chiếm Đông Dương để bảo toàn vị thế quốc gia luôn ủng hộ việc thiết lập
một thế giới công bằng. Song, nếu đặt thái độ trung lập đó trong bối cảnh của một cuộc đối đầu không
cân sức giữa Việt Minh và Pháp, thì thực ra người Mỹ đã nghiêng hẳn và ngầm ủng hộ đồng minh của
mình là nước Pháp. Thật vậy, phân tích những diễn tiến trong thái độ của Mỹ đối với Đông Dương, Đô
đốc Anh Mountbatten đã chắc nịch khẳng định với Tướng Leclerc: “Với cái chết của Roosevelt, Pháp có
thể  quay  trở  lại  Đông  Dương,  vấn  đề  quản  thác  quốc  tế  cho  Đông  Dương  đã  trở  thành  vô  nghĩa”[10].
Hoàn toàn vững tâm bởi những chuyển biến có lợi cho mục tiêu quay trở lại Đông Dương, Tổng thống
 
Pháp Charles de D Gaulle tuyên bố: "Lập trường của Pháp về Đông Dương rất đơn giản: Pháp có ý định
thu hồi chủ quyền của mình trên toàn Đông Dương. Dĩ nhiên là sự khôi phục đó sẽ kéo theo một thể chế
mới, nhưng đối với chúng tôi, chủ quyền của Pháp là vấn đề hàng đầu"[11].
Nhận  định  về  sự  thay  đổi  trong  chính  sách  của  Mỹ  đối  với  Đông  Dương  từ  tháng  2­1945,  George
Herring cho rằng đó là kết quả của những tính toán nhằm nhận được sự hỗ trợ mang tính đòn bẩy của
Pháp trong cuộc chiến chống Liên Xô[12]. Không chỉ có vậy, trong khi ủng hộ quyền tự quyết dân tộc,
Hoa Kỳ còn bị ràng buộc bởi các mối quan hệ với những đồng minh châu Âu­ những quốc gia sở hữu số
lượng lớn thuộc địa, đã và đang làm giàu từ những mảnh đất màu mỡ ấy. Chịu tác động, chi phối bởi
những  phức  tạp  từ  cuộc  Chiến  tranh  Lạnh  (dù  mới  chớm  nở  song  đã  hứa  hẹn  những  cạnh  tranh,  đối
đầu quyế liệt) cũng nhu cầu củng cố quan hệ đồng minh để đối phó với một thế giới cộng sản đang mở
rộng  hàng  ngày,  hàng  giờ  và  tham  vọng  chiến  lược  của  Liên  Xô  ở  châu  Âu,  Hoa  Kỳ  khó  có  thể  hành
động dứt khoát hơn. Thái độ của Washington đối sự việc Pháp tái chiếm Việt Nam còn được đặt dưới
lăng kính của các vấn đề châu Âu, nhất là Paris đã một vài lần ý tứ đề cập đến việc rút lui khỏi Kế hoạch
Marshall nếu không được bật đèn xanh cho việc trở lại Đông Dương vô điều kiện[13]. Ngoài ra, Mỹ còn
lo ngại rằng thoát ra khỏi chế độ thuộc địa, các quốc gia mới giành độc lập có thể nhận sự hỗ trợ từ Liên
Xô, rơi vào vùng ảnh hưởng của khối cộng sản –điều đó chắc chắn dẫn đến những thay đổi trong cán
cân lực lượng nghiêng về phía có lợi cho Liên Xô; đồng thời, đánh mạnh/làm giảm các nguồn lực kinh tế
của các đồng minh của Mỹ, khiến thế giới tư bản bị thu hẹp và suy yếu. Các phong trào đấu tranh đòi

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhung­goc­nhin­van­hoa/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1945­1946­phan­2 3/6
5/2/2019 Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 ­ 1946) [Phần 2]

độc lập diễn ra liên tiếp, sôi nổi, mạnh mẽ trên nhiều khu vực của thế giới càng củng cố thêm mối lo ngại
này của Hoa Kỳ và một nước Việt Nam cộng sản không phải là sự lựa chọn của Washington vào thời
điểm đó cũng như nhiều năm sau này.
Viết về cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhiều nhà nghiên cứu thường đề cập đến “một nền
hòa bình bị bỏ lỡ”. Một câu hỏi được đặt ra là: Từng có hay không một nền hòa bình bị bỏ lỡ? Câu trả
lời là không khi đặt các chủ thể có liên quan trực tiếp và có vai trò quyết định đối với nền hòa bình ấy
trên một trục tham chiếu: Pháp không bao giờ chịu từ bỏ Đông Dương, VNDCCH lựa chọn con đường
giải phóng dân tộc, đi tới độc lập, tự do dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác –Lênin, còn Mỹ thì bị ám ảnh
bởi bóng ma của chủ nghĩa cộng sản và dẫn dắt bởi niềm tin tuyệt đối là phải chống lại bóng ma ấy.
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­
[1]U.S. Department of State: Foreign Relations of the United States, Government Printing Office, Vol VI,
Washington, D.C 1970, p.307.
[2]  William  Conrad  Gibbons:The  U.S.  government  and  the  Vietnam  war,  Excutive  and  Legislative  roles
and relationships, part I, 1945­1960, Princeton University press, Princeton, New Jersey, 1986, p.21.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.137.
[4] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.19.
[5] William J. Duiker:Ho Chi minh, A life, Hyperion, New York, 2000, p.366.
[6]  Office  of  the  Secretary  of  Defense:  United  States  ­  Vietnam  Relations  1945  ­  1967  (The  Pentagon  
Papers), Volume 1, Nimble Books, 2011, p.66. THƯ VIỆN ẢNH
[7]  Gabriel  Kolko:  The  United  States  in  Vietnam  1944­66:  Origins  and  Objectives  of  an  Intervention
Objectives of an Intervention, Ibid, p.18.
[8]  Gabriel  Kolko:  The  United  States  in  Vietnam  1944­66:  Origins  and  Objectives  of  an  Intervention
Objectives of an Intervention, Ibd, p.19.
[9] The Pentagon Papers Gravel Edition, Ibid.
[10] The Pentagon Papers Gravel Edition, Ibid.
[11] De Gaulle bluntly reaffirms French position in Indochina, End Of Empire.asia.
[12]  George  S.  Herring,  "The  Truman  Administration  and  the  Restoration  of  French  Sovereignty  in
Indochina", Ibid, p.112.
[13] America’s Vietnam War in Indochina, us.history.com

Từ khóa:  lập trường của mỹ  phap tai chiếm dong dương  Mai Hoa

VIDEO CLIP
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen­muc­goc­nhin­van­hoa/nhung­goc­nhin­van­hoa/lap­truong­cua­my­truoc­viec­phap­tai­chiem­dong­duong­1945­1946­phan­2 4/6